Liên hệ
Gọi ngay: 1900 6188
Tìm kiếm thông tin theo:

Có được nhận con nuôi khi mẹ đẻ bị hạn chế năng lực hành vi dân sự?


Có được nhận con nuôi khi mẹ đẻ bị hạn chế năng lực hành vi dân sự được quy định chi tiết và cụ thể tại Điều 15 Luật nuôi con nuôi 2010

Câu hỏi:
Chào luật sư, tôi có một câu hỏi như sau: Tôi có một người hàng xóm, cô ấy không lấy chồng nhưng mang thai và có sinh một bé gái đến nay được 20 ngày tuổi cô ấy lại là người thần kinh không bình thường, là người từ nơi khác chuyển tới, không có ai thân thích họ hàng qua lại. Gia đình tôi lại hiếm muộn, tôi thấy thương cho cháu bé khi mà người mẹ không nhận thức được hành vi chị ấy làm có thể gây tổn hại đến con. Xin hỏi, tôi có thể nhận nuôi con nuôi trong khi mẹ đẻ bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự không? Xin cám ơn!
Luật sư tư vấn:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi những thắc mắc của bạn đến chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty Luật VinaBiz. Với những thông tin bạn cung cấp bộ phận tư vấn pháp luật đưa ra ý kiến tư vấn cho bạn như sau:

Có được nhận con nuôi khi mẹ đẻ bị hạn chế năng lực hành vi dân sự?

(ảnh minh họa)

Thứ nhất, căn cứ Điểm b, Khoản 1, Điều 47 Bộ luật dân sự 2015 quy đình về đối tượng được giám hộ như sau:

Điều 47. Người được giám hộ

1. Người được giám hộ bao gồm:

a) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ;

b) Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ;

c) Người mất năng lực hành vi dân sự;

d) Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

...

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, cháu bé 20 ngày tuổi có mẹ đẻ nhưng mẹ đã bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, không có họ hàng thân thích, không có người giám hộ đương nhiên do đó cháu bé sẽ được cử hoặc chỉ định người giám hộ theo quy định tại các Điều 52, 54 Bộ luật dân sự 2015.

Thứ hai, căn cứ theo Khoản 2 Điều 15 Luật nuôi con nuôi 2010 quy định về việc trẻ em có cha mẹ đẻ nhưng không có khả năng nuôi dưỡng thì có thể báo cáo để tìm gia đình thay thế cho trẻ em.

" Điều 15. Trách nhiệm tìm gia đình thay thế cho trẻ em

2. Việc tìm gia đình thay thế cho trẻ em được quy định như sau:
a) Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phát hiện trẻ em bị bỏ rơi có trách nhiệm tìm người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ em; nếu có người nhận trẻ em làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phát hiện trẻ em bị bỏ rơi xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật; nếu không có người nhận trẻ em làm con nuôi thì lập hồ sơ đưa trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng;
b) Trường hợp trẻ em mồ côi không có người nuôi dưỡng hoặc trẻ em có cha mẹ đẻ, người thân thích nhưng không có khả năng nuôi dưỡng thì người giám hộ, cha mẹ đẻ, người thân thích có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em thường trú tìm gia đình thay thế cho trẻ em. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm hỗ trợ nuôi dưỡng trẻ em và thông báo, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân trong thời hạn 60 ngày để tìm người nhận trẻ em làm con nuôi; nếu có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, giải quyết. Hết thời hạn thông báo, niêm yết, nếu không có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập hồ sơ đưa trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng;

..."

Như vậy, theo Điểm b Khoản 2 Điều 15 Luật nuôi con nuôi 2010 sau khi cháu bé 20 ngày tuổi được chỉ định người giám hộ thì người giám hộ có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em thường trú tìm gia đình thay thế cho trẻ em. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm hỗ trợ nuôi dưỡng trẻ em và thông báo, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân trong thời hạn 60 ngày để tìm người nhận trẻ em làm con nuôi; 

Do đó, nếu như gia đình bạn có mong muốn nhận trẻ làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, giải quyết.

Căn cứ pháp lý:
Điều 15 Luật nuôi con nuôi 2010;
Điều 47, Điều 52, Điều 54 Bộ luật dân sự 2015;
Hy vọng rằng sự tư vấn của bộ phận tư vấn pháp luật sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của mình. Vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí 1900.6188 để nhận được ý kiến tư vấn chính xác nhất!

Chú ý: Thông tin trong bài trên chỉ có tính chất tham khảo, khi áp dụng vào thực tế, độc giả nên có ý kiến của Luật sư hoặc tra cứu nguồn văn bản pháp luật chính thức do pháp luật quy định và công nhận.

Tư vấn pháp luật miễn phí