Di sản thừa kế dùng vào việc thờ cúng và di tặng

Để lại di sản thừa kế dùng vào việc thờ cúng và di tặng được pháp luật quy định cụ thể tại Điều 645, 646 Bộ luật dân sự 2015.
Bạn đang gặp khó khăn trong vấn đề di sản thừa kế dùng vào việc thờ cúng và di tặng? Bạn là người lập di chúc và bạn thắc mắc liệu bạn có thể tặng tài sản của mình cho một người không có quan hệ gia đình với mình? Bạn là người được di tặng tài sản, vậy bạn có phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho người đã di tặng tài sản cho bạn? Bạn là người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng nhưng bạn không rõ quyền và nghãi vụ của mình là gì?....

==> Hãy để Netlaw giúp bạn giải quyết những vấn đề trên nhé! Và để giúp bạn dễ hiểu, dễ nắm bắt vấn đề, Netlaw sẽ làm phép so sánh các quy định của pháp luật về việc để lại di sản dùng vào việc thờ cúng với di tặng.

1.

Di sản dùng vào việc thờ cúng có điểm nào giống với di sản dùng để di tặng?
Trước hết, di sản dùng vào việc thờ cúng và di tặng đều phát sinh từ ý chí của người lập di chúc. Những phần di sản dùng vào việc thờ cúng hay di tặng theo quy định của pháp luật thì phải được ghi rõ trong di chúc. Tuy nhiên, di sản dùng vào việc thờ cúng còn có thể phát sinh trong trường hợp: người lập di chúc không hề đề cập đến việc để lại di sản dùng cho thờ cúng trong di chúc của mình nhưng khi người đó mất, những người thừa kế của người đó tự thỏa thuận với nhau sẽ dành một phần di sản người đó để lại dùng vào việc thờ cúng.

Về việc chỉ định người có liên quan(người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng, người nhận di sản di tặng), người lập di chúc có thể tự do quyết định. Cả người quản lý di sản và người nhận di tặng đều có thể là những người không có quan hệ gia đình với người lập di chúc. Chỉ cần tin tưởng ai đó, người lập di chúc hoàn toàn có thể chỉ định người đó làm người quản lý di sản cho mình phục vụ việc thờ cúng. Việc di tặng cũng vậy, người lập di chúc có thể tặng tài sản của mình cho bất cứ ai, tổ chức, cơ quan nào mà mình muốn.

Về việc phân chia di sản, di sản dùng vào việc thừa kế hoặc di tặng chỉ có thể là một phần di sản nhất định của người chết để lại, không thể là toàn bộ di sản của người chết. Quy định này đưa ra nhằm bảo về quyền thừa kế của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc(con chưa thành niên, con thành niên nhưng không có khả năng lao động, vợ/chồng, cha mẹ người lập di chúc), đảm bảo nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Nếu bạn còn có cha mẹ cần phụng dưỡng, còn có vợ/chồng, con nhỏ cần chăm lo, bạn không thể dùng toàn bộ tài sản của mình vào việc thờ cúng hoặc di tặng mà quên trách nhiệm của mình đối với những người thân đó được.

Một điều bạn nên chú ý, đó là di sản để lại đều phải thực hiện xong các nghĩa vụ dân sự như: trả nợ, nộp phạt… rồi mới xét đến việc dùng vào thờ cúng và di tặng. Nếu di sản để lại không đủ để thực hiện các nghĩa vụ dân sự của người chết thì sẽ không có phần di sản dùng vào việc thờ cúng và di tặng.

==> Vấn đề đặt ra: Trong trường hợp, di chúc đề cập đến cả di tặng và di sản dùng vào việc thờ cúng, thì phải dùng phần di sản nào để thanh toán nghĩa vụ tài sản trước? Di tặng hay phần di sản dùng vào việc thờ cúng?

2.

Những điểm khác nhau giữa di sản dùng vào việc thờ cúng và di sản di tặng là gì?
  • Về quyền và nghĩa vụ phát sinh:
- Di sản dùng vào việc thờ cúng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người quản lý di sản và những người thừa kế.
Thứ nhất, người quản lý di sản có nghĩa vụ thực hiện việc thờ cúng theo di chúc, theo sự thỏa thuận của những người thừa kế sao cho phù hợp với ý nguyện của người để lại di sản. Về quyền lợi, trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó với điều kiện người quản lý này là người thuộc diện thừa kế theo pháp luật(những người được thừa kế theo các hàng thừa kế được quy định tại Điều 651 hoặc là người thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 652 Bộ luật dân sự 2015). Còn nếu người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng được chỉ định lại nằm ngoài diện thừa kế theo pháp luật, thì trong trường hợp những người thừa kế theo di chúc đều đã chết, di sản thờ cúng sẽ không thể thuộc về người quản lý.
==> Câu hỏi đặt ra: Di sản dùng vào việc thờ cúng sẽ được xử lý như thế nếu những người thừa kế theo di chúc đều đã chết và người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng nằm ngoài diện thừa kế theo pháp luật?
Thứ hai, với những người thừa kế, họ có quyền và nghĩa vụ chỉ định người quản lí di sản dùng vào việc thờ cúng, có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý nếu người được chỉ định quản lý trước đó không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận đã xác lập với người thừa kế. Người thừa kế còn có quyền thống nhất chia di sản dùng vào việc thờ cúng của người để lại di chúc khi người quản lí di sản chết hoặc người quản lí di sản không thuộc diện thừa kế của người để lại di chúc.
- Di sản di tặng được thực hiện theo di chúc của người chết, theo đó thì một phần di sản của người chết sẽ được tặng cho bất kì ai, tổ chức, cá nhân còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Các tổ chức, cá nhân được nhân được nhận di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ đối với phần tài sản được di tặng.
  • Về quyền sở hữu:
- Di sản dùng vào việc thờ cúng: Người quản lí di sản dùng vào việc thờ cúng sẽ không có quyền sở hữu đối với di sản này, họ chỉ có thể thực hiện việc chiếm hữu, sử dụng di sản. Tuy nhiên, trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lí hợp pháp di sản đó với điều kiện người quản lý này là người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Tức là khi đó, người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng sẽ là chủ sở hữu của di sản đó. Di sản vốn dĩ là di sản được dùng vào việc thờ cúng sẽ trở thành tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của người quản lý. Người này sẽ có quyền định đoạt di sản theo ý chí của mình và theo quy định của pháp luật.
- Di sản di tặng thuộc quyền sở hữu của người được di tặng. Sau khi được trao di sản, người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ gì khác mà có quyền sở hữu, sử dụng định đoạt phần di sản đó.
Đây là quy định pháp luật có liên quan - Bạn có thể tham khảo!
Bạn cần tư vấn thêm? Hãy liên hệ với chúng tôi

Đặt câu hỏi với Luật sư/Chuyên gia pháp lý

Thoại/Chat/Email với Luật sư/Chuyên gia pháp lý


Hotline tư vấn

19006188

19006210

Bạn gặp khó khăn
khi sử dụng netlaw?

Hãy liên lạc với chúng tôi

Hotline tư vấn 19006188 nhánh 123