Những trường hợp thỏa thuận ủy quyền vô hiệu

Hiện nay, thỏa thuận ủy quyền được sử dụng trong khá nhiều trường hợp. Tuy nhiên, bạn có biết rằng có nhiều trường hợp thỏa thuận ủy quyền sẽ bị vô hiệu theo quy định của pháp luật? Hãy cùng Netlaw tìm hiểu qua bài viết này

Pháp luật không quy định cụ thể thỏa thuận ủy quyền vô hiệu trong những trường hợp nào mà chỉ quy định chung về các trường hợp vô hiệu của giao dịch dân sự, mà thỏa thuận ủy quyền cũng là một trong các loại của giao dịch dân sự. Vì vậy, căn cứ từ các trường hợp vô hiệu của giao dịch dân sự để xác định các trường hợp vô hiệu của thỏa thuận ủy quyền.

Để các bạn hiểu rõ hơn về các trường hợp vô hiệu của thỏa thuận ủy quyền, chúng tôi sẽ phân tích cụ thể các trường hợp vô hiệu của thỏa thuận ủy quyền.

Thỏa thuận ủy quyền vô hiệu khi không đáp ứng đủ các điều kiện sau:

- Thứ nhất, chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với thỏa thuận ủy quyền được xác lập;

- Thứ hai, chủ thể tham gia thỏa thuận ủy quyền phải hoàn toàn tự nguyện;

- Thứ ba, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Theo đó, một thỏa thuận ủy quyền mà không đáp ứng một trong các điều kiện trên thì bị vô hiệu, cụ thể các trường hợp thỏa thuận ủy quyền vô hiệu bao gồm:

Đăng ký để nhận 10 bài viết hữu ích từ các luật sư/chuyên gia tư vấn đầu ngành về lĩnh vực này.

1.

Thỏa thuận ủy quyền vô hiệu khi vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội

Thỏa thuận ủy quyền có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì bị vô hiệu. Điều cấm của luật được hiểu là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là các chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng và thực hiện theo.

2.

Thỏa thuận ủy quyền vô hiệu do giả tạo

Để hiểu rõ trường hợp thỏa thuận ủy quyền vô hiệu do giả tạo, các bạn cần hiểu rõ giao dịch dân sự giả tạo là gì?

Giao dịch dân sự giả tạo là trường hợp khi các bên xác lập giao dịch một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch đó là giả tạo và bị tuyên vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng bị vô hiệu theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc luật khác có liên quan. Trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba thì giao dịch đó cũng bị tuyên là vô hiệu.

Như vậy, thỏa thuận ủy quyền cũng bị vô hiệu nếu như thỏa thuận đó là giả tạo.

3.

Thỏa thuận ủy quyền do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện

Khi thỏa thuận ủy quyền do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố thỏa thuận ủy quyền đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật thỏa thuận ủy quyền này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp:

- Thỏa thuận ủy quyền của người chưa đủ 06 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;

- Thỏa thuận ủy quyền chỉ làm phát sịnh quyền hoăc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện Thỏa thuận ủy quyền với họ;

4.

Thỏa thuận ủy quyền vô hiệu do bị nhầm lẫn

Thỏa thuận ủy quyền bị nhầm lẫn là trường hợp thỏa thuận ủy quyền đó được xác lập khi có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập thỏa thuận ủy quyền.

Khi phát hiện thỏa thuận ủy quyền bị nhầm lẫn thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận ủy quyền đó vô hiệu trừ trường hợp: Mục đích xác lập thỏa thuận ủy quyền của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập thỏa thuận ủy quyền vẫn đạt được.

5.

Thỏa thuận ủy quyền vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

Lừa dối là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập thỏa thuận ủy quyền đó.

Đe dọa, cưỡng ép là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện thỏa thuận ủy quyền nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

Khi một bên tham gia thỏa thuận ủy quyền do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên thỏa thuận ủy quyền đó là vô hiệu.

6.

Thỏa thuận ủy quyền vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình

Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập thỏa thuận ủy quyền vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận ủy quyền đó là vô hiệu.

Khi yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận ủy quyền vô hiệu thì người yêu cầu phải chứng minh và có chứng cứ chứng minh thời gian xác lập thỏa thuận ủy quyền vào đúng thời điểm không nhận thức được hành vi của mình.

7.

Thỏa thuận ủy quyền vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Thỏa thuận ủy quyền vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

– Thỏa thuận ủy quyền đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong thỏa thuận ủy quyền thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của thỏa thuận ủy quyền đó.

– Thỏa thuận ủy quyền đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong thỏa thuận ủy quyền thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của thỏa thuận ủy quyền đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực nữa.

Trên đây là những phân tích cụ thể của chúng tôi liên quan đến các trường hợp vô hiệu của thỏa thuận ủy quyền. Nếu bạn thấy vẫn còn thắc mắc hoặc cần tư vấn thêm về các trường hợp vô hiệu của thỏa thuận ủy quyền, bạn thấy cần phải trao đổi thêm với Luật sư? Hãy bắt đầu theo một trong những phương thức sau đây:

- Nhập từ khóa vào phần tìm kiếm phía trên để tham khảo miễn phí các câu hỏi – đáp pháp lý/chuyên đề, tình huống pháp lý phù hợp với vụ việc của bạn;

- Đặt câu hỏi miễn phí qua bảng câu hỏi, box chat, email, skype, Facebook chat, google hangout tại Netlaw.vn để nhận được câu trả lời từ các Luật sư/chuyên giao pháp lý;

- Điện thoại trực tiếp tới đầu số 1900.6188 để tham vấn ý kiến Luật sư/chuyên gia pháp lý;

- Đăng ký trao đổi trực tiếp qua điện thoại hoặc gặp mặt trực tiếp với các Luật sư/chuyên gia pháp lý trên hệ thống Netlaw.vn để được giải đáp.

Cảm ơn Bạn đã tin tưởng và lựa chọn Netlaw để tham vấn pháp lý.

Bạn cần tư vấn thêm? Hãy liên hệ với chúng tôi

Đặt câu hỏi với Luật sư/Chuyên gia pháp lý

Thoại/Chat/Email với Luật sư/Chuyên gia pháp lý


Hotline tư vấn

19006188

19006210

Bạn gặp khó khăn
khi sử dụng netlaw?

Hãy liên lạc với chúng tôi

Hotline tư vấn 19006188 nhánh 123