Tranh chấp tài sản khi ly hôn - những điều cần biết

Mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân xảy ra, khi ly hôn vợ chồng bạn không thể tự thỏa thuận về việc phân chia tài sản dẫn đến việc tranh chấp tài sản. Trường hợp như vậy bạn không biết phải giải quyết vấn đề này thế nào ?

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án. Về nguyên tắc, pháp luật quy định tài sản của vợ chồng sau ly hôn được chia theo thỏa thuận của vợ chồng, nếu không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không đầy đủ thì Tòa án giải quyết chia tài sản của vợ chồng.

Đăng ký để nhận 10 bài viết hữu ích từ các luật sư/chuyên gia tư vấn đầu ngành về lĩnh vực này.

Vấn đề tài sản giải quyết như thế nào nếu có tranh chấp

Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi.
          +) Tài sản chung đó là do công sức đóng góp của cả vợ và chồng bạn trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung; tài sản vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

          +) Tài sản chung được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung; Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. (theo quy định tại khoản 2 điều 59 LHNGĐ năm 2014).

+) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch. ( theo quy định tại khoản 3 điều 59 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014)     

+) Tài sản chung đưa vào kinh doanh: vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.

          Đối với các khoản nợ trong thời kỳ hôn nhân mà đến thời điểm ly hôn, vợ (chồng) vẫn chưa trả xong thì pháp luật vẫn xác định đó là nghĩa vụ chung của cả hai người. Theo đó, mỗi người phải có nghĩa vụ thanh toán một nửa số nợ cho người cho vay, trừ trường hợp hai bạn có thỏa thuận khác về việc trả khoản nợ đó).

 

Làm thế nào để giành được phần hơn trong khối tài sản chung?

         Để giành được phần hơn trong khối tài sản chung, vợ (chồng) bạn cần phải chứng minh mình có công sức đóng góp nhiều hơn; phải đưa ra các chứng cứ về việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.

         Dựa theo điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 do TAND tối cao, VKSND tối cao và Bộ Tư pháp phối hợp ban hành quy định về hướng dẫn thi hành một số quy định của luật hôn nhân và gia đình. Có 4 yếu tố để giành được phần hơn.

         a) “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” nghĩa là là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực về hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên nào gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng bạn

         b) “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

         c) “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.

Ví dụ: Vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang chạy xe taxi trị giá 400 triệu đồng và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang kinh doanh trị giá 200 triệu đồng. Khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung, Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ, giao xe ô tô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh, tạo thu nhập. Người chồng nhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người vợ phần giá trị là 100 triệu đồng.

         d) “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” nghĩa là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

Ví dụ, trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.

Đây là quy định pháp luật có liên quan - Bạn có thể tham khảo!
Bạn cần tư vấn thêm? Hãy liên hệ với chúng tôi

Đặt câu hỏi với Luật sư/Chuyên gia pháp lý

Thoại/Chat/Email với Luật sư/Chuyên gia pháp lý


Hotline tư vấn

19006188

19006210

Bạn gặp khó khăn
khi sử dụng netlaw?

Hãy liên lạc với chúng tôi

Hotline tư vấn 19006188 nhánh 123