Liên hệ
Gọi ngay: 1900 6188
Tìm kiếm thông tin theo:

Hạn chế việc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp?


Quy định về hạn chế chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp được ghi nhận tại Điều 142 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Theo quy định tại Điều 142 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì việc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có những hạn chế như sau:


Hạn chế chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp?

Thứ nhất: Đối với quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, tên thương mại thì không được chuyển giao. Bởi chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý là nhà nước, các chủ thể khác chỉ có thể có quyền quản lý hoặc sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ theo quyết định của Nhà nước. Còn quyền đối với tên thương mại chỉ được chuyển nhượng cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó.

Thứ hai: Quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đó mà chỉ có thể được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể.

Thứ ba:  Bên được chuyển quyền không được ký kết hợp đồng thứ cấp với bên thứ ba, trừ trường hợp được bên chuyển quyền cho phép.

Thứ tư:  Bên được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu có nghĩa vụ ghi chỉ dẫn trên hàng hoá, bao bì hàng hoá về việc hàng hoá đó được sản xuất theo hợp đồng sử dụng nhãn hiệu.

Thứ năm:  Bên được chuyển quyền sử dụng sáng chế theo hợp đồng độc quyền có nghĩa vụ sử dụng sáng chế như chủ sở hữu sáng chế. Theo đó, chủ sở hữu sáng chế có nghĩa vụ sản xuất sản phẩm được bảo hộ hoặc áp dụng quy trình được bảo hộ để đáp ứng nhu cầu quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội. Khi có các nhu cầu quy định tại khoản này mà chủ sở hữu sáng chế không thực hiện nghĩa vụ đó thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho người khác mà không cần được phép của chủ sở hữu sáng chế.

Căn cứ pháp lý:

Điều 142 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí 1900.6188 để nhận được ý kiến tư vấn chính xác nhất!

Chú ý: Thông tin trong bài trên chỉ có tính chất tham khảo, khi áp dụng vào thực tế, độc giả nên có ý kiến của Luật sư hoặc tra cứu nguồn văn bản pháp luật chính thức do pháp luật quy định và công nhận.

Tư vấn pháp luật miễn phí