Liên hệ
Gọi ngay: 1900 6188
Tìm kiếm thông tin theo:

Phó phòng công an tỉnh làm giả thẻ ngành để vay tiền:Phạm những tội gì?


Hành vi làm giả thẻ ngành để lừa vay tiền của người khác có thể bị truy cứu về tội làm giả giấy tờ, tài liệu và lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Báo Tuổi trẻ ngày 21/6/2017 có đưa tin về Phạm Mạnh Hùng (40 tuổi, nguyên phó phòng hồ sơ, Công an tỉnh Đắk Nông)  làm giả thẻ ngành đem thế chấp lừa hơn 1 tỉ đồng.

Theo cáo trạng truy tố, từ cuối năm 2013 đến đầu 2016 bị cáo Hùng đã tham gia đánh bạc trên mạng internet và thua sạch số tiền lớn đã vay trước đó.

Để có tiền trả nợ và chơi bạc tiếp, Hùng đã thuê người làm giả 18 giấy chứng minh công an nhân dân và hai thẻ đảng viên rồi dùng những giấy tờ giả này đi thế chấp cho 18 người dân tại huyện Đắk R’Lấp, TX. Gia Nghĩa, huyện Đắk Mil để vay hơn 1 tỉ đồng.

Hành vi của đối tượng đã cấu thành nên tội Làm giả con dấu, giấy tờ, tài liệu và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Thứ nhất, quy định về tội tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

 Điều 267, Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức như sau:

- Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:

a) có tổ chức;

b) phạm tội nhiều lần;

c) gây hậu quả nghiêm trọng;

d) tái phạm nguy hiểm.

- Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bốn năm đến bảy năm.

- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

Nguồn: Internet.

Thứ hai, tội lừa đào chiếm đoạt tài sản

Điều 139, Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi bổ sung 2009:
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

[….]

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo đó, dựa trên kết luận điều tra của cơ quan công an, bị cáo đã bị tuyên 10 năm tù và phải hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt của các bị hại.

Căn cứ pháp lý:

Điều 67, Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi bổ sung 2009.

Hy vọng rằng sự tư vấn của bộ phận tư vấn pháp luật sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của mình. Vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí 1900.6188 để nhận được ý kiến tư vấn chính xác nhất!.

 

Chú ý: Thông tin trong bài trên chỉ có tính chất tham khảo, khi áp dụng vào thực tế, độc giả nên có ý kiến của Luật sư hoặc tra cứu nguồn văn bản pháp luật chính thức do pháp luật quy định và công nhận.

Tư vấn pháp luật miễn phí