Liên hệ
Gọi ngay: 1900 6188
Tìm kiếm thông tin theo:

Trách nhiệm vợ, chồng đối với nợ, lãi từ việc kinh doanh của một bên?


Trách nhiệm vợ, chồng đối với nợ, lãi từ việc kinh doanh của một bên quy định cụ thể và chi tiết tại Điều 33, Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Câu hỏi:

Thưa luật sư, tôi và bạn gái đều có công ty riêng, nếu chúng tôi kết hôn và sau này nếu trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình mà phải vay nợ  thì người còn lại có phải chịu trách nhiệm không? Và nếu kinh doanh có lãi thì đó là tài sản chung hay riêng?


----------

Luật sư tư vấn:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi những thắc mắc của bạn đến chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty Luật VinaBiz. Với những thông tin bạn cung cấp bộ phận tư vấn luật hôn nhân gia đình đưa ra ý kiến tư vấn cho bạn như sau:


Trách nhiệm vợ, chồng đối với nợ, lãi từ việc kinh doanh

(ảnh minh họa)


Thứ nhất, khoản nợ từ việc kinh doanh riêng là nghĩa vụ riêng của vợ, chồng

Nghĩa vụ riêng về tài sản vợ chồng được quy định tại Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, theo đó:

“Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;

2. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật này;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng”.

Căn cứ quy định trên, các bên trong quan hệ vợ chồng phải tự chịu trách nhiệm về nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do mình xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình. Do đó, nếu sau khi kết hôn, bạn hoặc vợ, trong quá trình kinh doanh có vay nợ thì phải tự chịu trách nhiệm với khoản nợ đó và người còn lại sẽ không phải chịu trách nhiệm vì đó là khoản nợ phát sinh từ nhu cầu cá nhân, không vì nhu cầu của gia đình.

Thứ hai, lợi nhuận từ việc kinh doanh trong thời kì hôn nhân là tài sản chung

Căn cứ quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.

Như vậy, sau khi kết hôn, nếu không có thỏa thuận khác thì thu nhập, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của hai vợ chồng sẽ được coi là tài sản chung.

Căn cứ pháp lý:

Điều 33, Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Hy vọng rằng sự tư vấn của bộ phận tư vấn luật hôn nhân gia đình sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của mình. Vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí 1900.6188 để nhận được ý kiến tư vấn chính xác nhất!


Chú ý: Thông tin trong bài trên chỉ có tính chất tham khảo, khi áp dụng vào thực tế, độc giả nên có ý kiến của Luật sư hoặc tra cứu nguồn văn bản pháp luật chính thức do pháp luật quy định và công nhận.

Tư vấn pháp luật miễn phí